Archive

Archive for the ‘Hệ thống thông tin’ Category

Thế nào là một giải pháp BI?


Trong thời gian gần đây, trong cộng đồng anh em chuyên làm giải pháp kinh doanh cho doanh nghiệp vẫn thường nhắc nhau về thuật ngữ BI – được viết tắt từ Business Intelligence; đây là một nền tảng công nghệ mới? một giải pháp công cụ mới? hay thế nào?

Thật ra thì BI là một thuật ngữ đã được biết đến từ rất lâu rồi, tuy nhiên chỉ mới được truyền đến Việt Nam trong thời gian gần đây; các hãng lớn đã có các giải pháp toàn diện về BI như Oracle, IBM, SAP, … và trong thời gian gần đây, Microsoft cũng đã tham gia vào thị trường của giải pháp BI.

Trước tiên, mình sẽ đi qua nhu cầu của giải pháp BI trong bối cảnh hiện nay; vì sao chúng ta cần BI, BI quan trọng như thế nào đối với hoạt động kinh doanh của các tổ chức doanh nghiệp.

Với giai đoạn hiện nay, các tổ chức doanh nghiệp tại Việt Nam đang trong giai đoạn chuẩn hóa hệ thống thông tin của tổ chức, gồm có nhiều vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau trong hệ thống quản trị tổ chức; cụ thể là thị trường ERP đang trên đà phát triển mạnh; cũng như nhu cầu triển khai nhiều ứng dụng kinh doanh nội bộ của doanh nghiệp. Tuy nhiên, hầu hết doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng bùng nổ dữ liệu, hệ thống dữ liệu của tổ chức bị manh múng, phân tán và không quản lí được; mặc dù sự tăng trưởng, trưởng thành của một tổ chức hay còn gọi là tri thức của doanh nghiệp được tích lũy, thể hiện rõ ràng trên hệ thống dữ liệu hoạt động của doanh nghiệp trong quá khứ. Và BI là giải pháp toàn diện giúp tổ chức doanh nghiệp chuẩn hóa hệ thống cơ sở dữ liệu quan hệ ở tầng ứng dụng trên nhiều nền tảng khác nhau, tích hợp dữ liệu vào DataWarehouse, phân tích và tích hợp tri thức nghiệp vụ để khai thác thông tin kinh doanh, thể hiện trên hệ thống báo cáo đa tương tác; nhằm giúp đội ngũ nhân viên kinh doanh, ban giám đốc có thể ra quyết định và triển khai các giải pháp kinh doanh kịp thời trong môi trường kinh doanh đầy cạnh tranh ngày nay.

database_and_business_intelligence

Tất cả giải pháp BI bất kể hãng nào đều phải tuân theo nguyên lí tổng quan gồm có 5 tầng chính, để đưa đến mục đích cuối cùng là ra quyết định; tùy thuộc vào hiện trạng của doanh nghiệp mà giải pháp sẽ được tùy biến sao cho phù hợp để đáp ứng được yêu cầu. 05 tầng chính của một giải pháp BI gồm:

  1. Data Source – Hệ thống cơ sở dữ liệu nguồn, hầu hết là cơ sở dữ liệu quan hệ vận hành chung với hệ thống ứng dụng kinh doanh như HRM, CRM, Point of Sales
  2. Data Warehouses – hệ thống kho dữ liệu của doanh nghiệp; được triển khai nhằm lưu trữ hệ thống dữ liệu xuyên suốt cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp; được cấu thành từ nhiều Data Marts, và mỗi Data Marts được xác định bởi một hoặc nhiều Dimension Table và 01 Fact Table. Hệ thống dữ liệu tại Data Warehouse là dữ liệu chỉ đọc đối với người dùng, việc cập nhật dữ liệu chỉ được thực hiện duy nhất thông qua các gói ETL (Extract, Transform, Load) thực thi chuyển đổi dữ liệu từ Data Sources vào Data Warehouses.
  3. Data Exploration – ở mức này, hệ thống nghiệp vụ của doanh nghiệp được triển khai, tri thức doanh nghiệp được khai thác thông qua việc phát triển các Cube, được cấu thành từ các Dimensions, Measures, Perspectives, Partitions, Calculations, …
  4. Data Mining – mục tiêu của mức này hướng đến việc khai thác các qui luật kinh doanh đặc trưng của doanh nghiệp để giúp doanh nghiệp xây dựng được hệ thống các quyết định cụ thể, giúp doanh nghiệp có hướng đi đúng đắn và phù hợp.
  5. Data Presentation – ở giai đoạn này, hệ thống dữ liệu của doanh nghiệp đã được xử lí thông qua tầng Data Exploration và Mining; trực quan hóa thông qua hệ thống biểu đồ và đặc tả thông qua các Metadata để chuyển đổi thành thông tin có ích để giúp người dùng ra các quyết định kinh doanh.

Xét trên góc độ kỹ thuật thì 05 tầng xử lí được mô tả như trên tương ứng với hệ thống tính năng cơ bản trong bộ 03 sản phẩm của Microsoft: SQL Server 2008 R2, SharePoint 2010 và Office 2010:

Data Sources Database Engine trong SQL Server 2005/2008/R2
Data Warehouses/Data Marts Database Engine, Master Data Services, Integrating Services trong SQL Server 2008 R2
Data Exploration Analysis Services trong SQL Server 2008/R2
Data Mining Analysis Services trong SQL Server 2008/R2
Data Presentation SharePoint 2007/2010
Office 2007/2010
Reporting Services trong SQL Server 2005/2008/R2

image

Advertisements

Kiến thức cơ bản về phân tích thiết kế hệ thống thông tin


I. Lịch sử phát triển của các phương pháp phân tích thiết kế hệ thống thông tin

Để có thể nắm lịch sử phát triển của phương pháp luận trong phân tích thiết kế hệ thống thông tin, ta hãy quay về phát biểu nổi tiếng của Nikluas Wirth, cha  đẻ của ngôn ngữ lập trình Pascal: “Cấu trúc dữ liệu + Giải thuật = Chương trình”. Và theo mình thấy thì câu nói này có ảnh hưởng xuyên suốt trong quá trình phát triển của các phương pháp luận phân tích thiết kế hệ thống.

Ta hãy lược sơ về những giai đoạn đầu của nền Công nghệ thông tin để xem lại quá trình phát triển của các phương pháp luận như thế nào.

  1. Vào những năm 70, việc tiếp cận đến phân tích và thiết kế hệ thống theo phương pháp gọi là phương pháp Descartes, ý tưởng của phương pháp này xuất phát trên việc lặp phân rã hệ thống thành các chức năng và ứng dụng phương pháp lập trình cấu trúc đơn thể chương trình, việc phân rã kết thúc khi một chức năng được phân rã đến mức có thể xử lí được. Trong giai đoạn này, người ta không quan tâm đến các thành phần trong lĩnh vực tin học hóa mà chỉ quan tâm đến các vấn đề trong hệ thống để lập trình, tập trung vào chức năng và ít tập trung vào dữ liệu. Ta cũng dễ dàng nhận thấy được, trong giai đoạn này, ta cũng dễ dàng thấy được, đây là giai đoạn xây dựng các chuẩn về cơ sở dữ liệu và phát triển các hệ cơ sở dữ liệu và cũng là giai đoạn các lập trình viên chỉ tập trung vào cài đặt các chức năng của hệ thống, hay tương ứng với vấn đề Giải thuật xử lí trong phát biểu trên mà chưa chú ý đến vấn đề dữ liệu của hệ thống.
  2. Trong năm 80, việc tiếp cận đến phân tích thiết kế chuyển biến sang một phương pháp mới, gọi là hệ thống hay còn gọi là phương pháp Merise. Quan điểm trong phương pháp Merise tiếp cận hệ thống theo 2 thành phần: thành phần xử lí (thành phần động) và thành phần dữ liệu (thành phần tĩnh). Cách tiếp cận của phương pháp này tuân theo 2 tính chất: tính toàn thể – tiếp cận hệ thống qua việc mô tả hệ thống con và sự tương tác giữa chúng; tính đúng đắn – tìm kiếm sự phân rã, kết hợp các hệ thống con sao cho hành vi của nó tiêu biểu nhất trong môi trường tác động lên hệ thống đó. Việc tiếp cận này chủ yếu xoay quanh dữ liệu để thu thập và tổ chức dữ liệu để khai thác, đáp ứng nhu cầu thông tin. Tuy nhiên, nếu ứng dụng phương pháp này thì phải tiến hành tổng hợp yêu cầu chính xác,rồi mới chuyển sang phân tích, nếu như có bất cứ thay đổi nào về yêu cầu thì hệ thống sẽ không còn đúng đắn, mối liên kết giữa các thành phần sẽ bị phá vỡ.
  3. Khi bước sang giai đoạn những năm 90, phương pháp phân tích thiết kế hướng đối tượng ngày càng được ứng dụng rộng rãi, đây là phương pháp tổng hợp cả 2 phương pháp là phương pháp Descartes và phương pháp Merise. Trước đây, các mô hình thường hướng đến việc tiếp cận dữ liệu và xử lí độc lập nhau, tuy nhiên trong phương pháp phân tích thiết kế hệ thống hướng đối tượng thì khái niệm đối tượng là sự tổng hợp giữa khái niệm xử lí và khái niệm dữ liệu chung trong một cách tiếp cận, và một hệ thống là một tập các đối tượng liên kết nội. Việc xây dựng hệ thống  chính là việc xác định  các đối tượng bằng cách ánh xạ các thực thể thế giới thực thành các đối tượng hệ thống, thiết kế và xây dựng nó, hệ thống được hình thành qua chính sự kết hợp này. Ta dễ dàng thấy được, nếu ứng dụng phương pháp này sẽ linh hoạt và hiệu quả hơn 2 phương pháp nêu trên.

II. Đặc trưng cơ bản của phương pháp phân tích thiết kế hệ thống hướng đối tượng

  • Tính bao bọc (Encapsulation): khái niệm hộp đen được sử dụng, đối tượng nhận chỉ truy xuất với đối tượng cung cấp qua giao diện được định nghĩa bởi đối tượng cung cấp mà không cần quan tâm việc thực thi nó được tiến hành như thế nào.
  • Tính phân loại (Classification): việc gom nhóm các đối tượng có cùng thuộc tính và hành vi vào cùng một lớp (class)
  • Tính kết hợp (Aggregation): kết hợp các đối tượng và các đối tượng cấu thành nó để mô tả cấu trúc cục bộ của đối tượng.
  • Tính thừa kết (Inheritance): phân loại tổng quát hóa và chuyên biệt hóa các đối tượng, và chia sẻ các đặc trưng của một đối tượng.

III. Qui trình cơ bản của việc thực thi phương pháp phân tích thiết kế hệ thống thông tin đặc trưng

    1. Khởi tạo: khảo sát hệ thống, vạch ra các vấn đề tồn đọng trong hệ thống
    2. Phân tích yêu cầu: Mục tiêu của giai đoạn này việc mô hình hóa các vấn đề của hệ thống
      • Khảo sát yêu vầu và tiến hành phân tích yêu cầu
      • Nghiên cứu yêu cầu và mô hình hóa
      • Xác định các giải pháp và đề xuất giải pháp tối ưu, đáp ứng nhu cầu khách hàng
    3. Thiết kế:
      • Thiết kế luận lí: biểu diễn hành vi và tính năng của hệ thống – chọn lựa từ kết quả tối ưu của giai đoạn phân tích.
      • Thiết kế vật lí: chuyển từ thiết kế luận lí sang thiết kế vật lí, hiện thực hóa các thành phần cấu trúc của hệ thống.
    4. Xây dựng: Triển khai cài đặt từ mô hình thành mã nguồn tương ứng cho từng phần của cấu trúc hệ thống.
    5. Thử nghiệm:
      • Thử nghiệm đơn vị – sử dụng sơ đồ lớp và sơ đồ đối tượng trong quá trình thử nghiệm.
      • Thử nghiệm tích hợp – sử dụng sơ đồ thành phần và sơ đồ cộng tác.
      • Thử nghiệm hệ thống – sử dụng sơ đồ usecase
    6. Cài đặt và bảo trì
      • Cài đặt để tiến hành đưa hệ thống vào sử dụng
      • Bảo trì hệ thống
        • Chức năng chưa phù hợp với yêu cầu người dùng
        • Điều kiện, hiện trạng vận hành hệ thống thay đổi, không có thích ứng được với hệ thống nữa
        • Lỗi phát sinh trong hệ thống trong quá trình vận hành mà trong quá trình thử nghiệm không phát hiện.
        • Nhu cầu cập nhật phiên bản mới với các tính năng, yêu cầu cập nhật.
      • Khi xuất hiện thay đổi quá lớn đối với hệ thống thì sẽ dẫn đến chi phí đầu tư cao, khi đó chúng ta hãy xem xét đến giải pháp thay thế hệ thống cũ bằng một hệ thống mới, khi đó qui trình mới sẽ được khởi tạo và thực thi với các đặc trưng riêng.
Categories: Hệ thống thông tin Tags:

Mô hình triển khai một giải pháp CRM thành công

February 20, 2010 Leave a comment

 

Kiến trúc CRM tổng quát (nguồn fidis.net)

BBT: Ý thức được tầm quan trọng của các hoạt động hướng khách hàng (KH), ngày càng nhiều doanh nghiệp quan tâm hơn đến các ứng dụng quản trị quan hệ khách hàng (CRM). Mặc dù TGVT PCW B đã có nhiều bài viết về chủ đề này, nhưng với sự cộng tác của tác giả Nguyễn Văn Hiếu, giám đốc công ty cổ phần Phần Mềm BSC, chúng tôi muốn tiếp cận đến khái niệm CRM từ góc độ nền tảng đầy đủ hơn, để từ đó triển khai những ứng dụng thực tế. Loạt bài viết này sẽ giúp bạn đọc hình dung tổng thể hơn về bức tranh CRM, từ vấn đề nhận thức, xây dựng kiến trúc, chiến lược, tầm nhìn, tới những phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác hệ thống CRM. Trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết đầu tiên.

Việc áp dụng CRM cần một kiến trúc chiến lược nền tảng và cân bằng để dựa trên đó đảm bảo các chương trình thực hiện đạt kết quả thành công và cực đại hóa được lợi ích cho doanh nghiệp (DN) và cho KH của DN.

Tầm quan trọng của kiến trúc chiến lược

Để đạt được giá trị lâu dài của giải pháp CRM, yêu cầu kiến trúc chiến lược phải gồm toàn bộ các hoạt động kinh doanh, dịch vụ liên quan đến KH của DN và trên mức độ toàn DN. Tại Việt Nam, chỉ một số ít DN mới áp dụng CRM cỡ DN, còn lại hầu hết áp dụng mức phòng ban hoặc kết hợp CRM vào một hay nhiều dự án khác. Việc thực hiện CRM ở mức độ DN cũng không dễ, bởi nó yêu cầu tầm nhìn cỡ hội đồng quản trị và ban lãnh đạo để định hướng điều khiển "việc tập trung không ngừng vào KH" trên toàn bộ DN. Trên thực tế, thậm chí hội đồng quản trị hay ban giám đốc dù đã chấp nhận sự cần thiết áp dụng CRM cỡ DN thì CRM vẫn chưa được coi là khẩn cấp nhất so với các yêu cầu về doanh số và lợi nhuận.

Việc không áp dụng được CRM trên toàn DN còn xuất phát từ thiếu sót của ban lãnh đạo như:

  • Không có khả năng nhìn thấy "Bức tranh CRM tổng thể" và hiểu được sự cần thiết phải thay đổi.
  • Thiếu một kiến trúc chiến lược cho hành trình thực hiện CRM
  • Kiến trúc chiến lược CRM cần được tạo bởi sự cân bằng giữa các nhu cầu của DN với nhu cầu của KH. Khoảng 90% DN áp dụng thành công CRM đều cân bằng giữa nhu cầu cải thiện trải nghiệm KH với sự cộng tác của DN.

Để xây dựng được "tầm nhìn CRM" đúng các DN nên xác định trước

Tầm nhìn CRM cho DN

Qua khảo sát hơn 120 DNVN đã áp dụng giải pháp CRM trong năm 2007 -2008 từ công ty BSC cho thấy, tỷ lệ các DNVN xây dựng được "tầm nhìn CRM" đúng chỉ đạt khoảng 20%. Còn phần lớn chỉ đặt CRM trong một vài phòng ban quan trọng liên quan đến KH (như phòng kinh doanh, phòng dịch vụ KH). Như trường hợp một KH kinh doanh trong lĩnh vực ô tô, mặc dù mục tiêu kinh doanh hướng KH của DN thể hiện tầm nhìn CRM rất cao của ban lãnh đạo, nhưng việc áp dụng CRM vẫn gặp khó khăn và không hiệu quả. Nguyên nhân do việc cổ động, truyền bá, giám sát thực hiện tầm nhìn CRM đến từng phòng ban, nhân viên làm chưa tốt, dẫn tới nhận thức và sự cộng tác của từng nhân viên, lãnh đạo cấp trung thấp, ảnh hưởng tới việc thực thi CRM.

Trong kiến trúc CRM, "xây dựng tầm nhìn CRM" là một trong những khối quan trọng. Tầm nhìn CRM là bức tranh tổng thể về cách nhìn nhận đánh giá và thấu hiểu KH, về KH mục tiêu mong muốn của DN và cách tương tác lý tưởng với các KH mục tiêu đó. Không có tầm nhìn CRM, KH và các cổ đông của DN sẽ không thể thấy rõ chiến lược CRM và lợi ích của nó. Bản thân nhân viên cũng không biết họ phải làm gì, được những lợi ích gì, điều này khiến sự cộng tác của DN trở nên rất khó khăn.

Để xây dựng được "tầm nhìn CRM" đúng các DN nên xác định trước:

  • Vị trí của DN trên thị trường: Tiềm lực, nhân lực, sản phẩm, thị trường KH, đối thủ cạnh tranh, các chính sách liên quan đến KH của DN và của đối thủ cạnh tranh.
  • Thông tin về KH của DN: nhu cầu, ước muốn, các đánh giá phản hồi của KH hiện tại, KH tiềm năng về sản phẩm, chính sách bán hàng, dịch vụ hiện tại của DN và của các đối thủ cạnh tranh.
  • Cùng bàn bạc thống nhất ở các cấp lãnh đạo cấp cao đến cấp trung để cùng xây dựng một "tầm nhìn CRM" đúng đặc thù cho DN mình.
  • Thực hiện: đào tạo, cung cấp tài liệu, video, qui định chính sách… để cổ động, động viên đôi khi là bắt buộc các nhân viên nhận thức và thấu hiểu tầm nhìn CRM của DN

Xây dựng chiến lược CRM

Tại các DN Việt Nam, chiến lược CRM đầy đủ gặp rất nhiều khó khăn. Việc đánh giá vị trí hiện tại của DN liên quan đến giá trị, lòng trung thành và độ hài lòng của KH chưa đầy đủ vì thiếu thông tin KH. Giá trị KH phần lớn được đánh giá phiến diện theo doanh số trong khi lòng trung thành và độ hài lòng của KH thì gần như không đánh giá được. Việc thiết lập các mục tiêu về KH phần lớn mang tính mơ hồ, không rõ ràng. Đa phần DN đều không quan tâm đến việc chỉ ra các yêu cầu về con người: kỹ năng, văn hóa, tổ chức, trách nhiệm, quyền hạn…Các yêu cầu về dữ liệu KH thì hoàn toàn thiếu và không thống nhất, dựa trên dữ liệu rời rạc hiện có của các phòng ban riêng rẽ. Ví dụ, một DN phân phối hàng tiêu dùng thì dữ liệu KH đại lý gần như chỉ có dữ liệu cơ bản (tên KH, địa chỉ, doanh số, dữ liệu kế toán). Trong khi CRM cần nhiều hơn rất nhiều các thông tin này để xây dựng lại mối quan hệ kinh doanh với các KH đã mất hoặc xây dựng các kế hoạch marketing hay chính sách bán hàng, dịch vụ…

Từ thực tế trên cho thấy, xây dựng chiến lược CRM cần bao gồm:

  • Việc đánh giá vị trí hiện tại của DN liên quan đến giá trị, lòng trung thành và độ hài lòng của KH.
  • Định hướng phân đoạn KH của DN.
  • Thiết lập các mục tiêu về KH (bao gồm đạt được, duy trì và phát triển).
  • Định nghĩa các thước đo để giám sát sự thực hiện chiến lược CRM (ví dụ: thước đo về độ hài lòng, trung thành, và chi phí đáp ứng).
  • Phác thảo chiến lược cho việc phân đoạn sản phẩm, chính sách giá, truyền thông và tương tác, kênh , dịch vụ KH, và quản lý phân đoạn theo yêu cầu KH.
  • Chỉ rõ các yêu cầu về cơ sở hạ tầng (bao gồm các kỹ năng, tổ chức, IT, phân tích và dữ liệu) để định hướng cho các chiến lược hoạt động khác.

5 bước để xây dựng một tầm nhìn CRM

  1. Bước 1: Hãy kiểm tra mục tiêu kinh doanh hướng các KH của DN
  2. Bước 2: KH có đồng ý với mục tiêu kinh doanh hướng KH của DN? Nếu có thì hãy dùng các giá trị của những KH này để xây dựng tầm nhìn CRM. Nếu không hãy sử dụng những phản hồi của KH để điều chỉnh mục tiêu kinh doanh hướng KH của DN.
  3. Bước 3: Xác định sự khác biệt giữa mục tiêu kinh doanh hướng KH của DN và các đối thủ cạnh tranh. Nếu không có, DN hãy kiểm tra những đặc điểm chính mà KH xem xét khi lựa chọn DN để mua hàng ( sự cách tân, chất lượng, chuyên môn, sự đứng đầu…) và làm thế nào để sản phẩm, dịch vụ và cách quan hệ của DN làm hài lòng các yêu cầu của KH, từ đó tạo nên một sự định vị thị trường mang tính cạnh tranh.
  4. Bước 4: Mục tiêu kinh doanh hướng KH của DN có được các nhân viên của DN nhận thức và hiểu rõ? Nếu không hãy tạo nên một câu chuyện (bằng kịch bản, video,..) về sự trải nghiệm lý tưởng của KH khi tương tác với DN sao cho tất cả mọi người trong DN hiểu rằng họ phải cố gắng thực hiện những gì để đạt được điều đó.
  5. Bước 5: Lãnh đạo DN phải là người xây dựng nên tầm nhìn CRM cho DN của mình và nỗ lực hết sức để truyền bá, cổ động nó cho các nhân viên, các cổ đông, KH hiện tại và KH tiềm năng của DN.

Nguyễn Văn Hiếu – Giám đốc Công ty CP Phần mềm BSC

Theo PCWorld Việt Nam

Tiếp cận nền tảng web với Microsoft Web Platform Installer


Nhằm mục tiêu cung cấp khả năng tiếp cận các nền tảng web một cách nhanh nhất, Microsoft ra mắt công cụ Microsoft Web Platform Installer cho cộng đồng Công nghệ.

Để có thể sử dụng công cụ này, các bạn vào website http://microsoft.com/web/downloads/platform.aspx và download công cụ này.

Sau khi cài đặt công cụ, các bạn có thể truy xuất vào màn hình quản lí các nền tảng web

 

Ta dễ dàng thấy được các nền tảng ứng dụng web được tích hợp sẵn trong bộ công cụ này

 

Ví dụ: Bạn cài đặt Dot Net Nuke CMS

 

Công cụ tiến hành download Dot Net Nuke CMS

 

Màn hình thiết lập cấu hình Dot Net Nuke CMS

 

Màn hình cài đặt thành công Dot Net Nuke CMS

 

Mình thấy đấy là một công cụ rất hay cho các bạn nghiên cứu các nền tảng ứng dụng web nên chia sẻ cùng các bạn, anh em yêu thích đam mê công nghệ

Tối ưu hóa hạ tầng nền tảng công nghệ thông tin


Microsoft cung cấp cho chúng ta một lộ trình để tiến tới một hạ tầng công nghệ thông tin năng động với các quy trình hoạt động, những giải pháp công nghệ cùng các chương trình đào tạo cho doanh nghiệp. Việc tối ưu hóa hạ tầng nền tảng công nghệ thông tin của doanh nghiệp là con đường tốt nhất giúp doanh nghiệp giải quyết được các vấn đề, vượt qua được giai đoạn khủng hoảng với các mô hình tối ưu giúp doanh nghiệp đạt được những kết quả tốt hơn, nâng cao hiệu quả hoạt động hơn.

Mô hình tối ưu hóa hạ tầng nền tảng của Microsoft tập trung vào 3 mô hình chính là: Core Infrastructure Optimization (Core IO), Business Productivity Infrastructure Optimization (BPIO) và Application Platform Optimization (APO)

Core Infrastructure Optimization
Core IO cung cấp một mô hình bảo mật, quản lí hạ tầng tối ưu và năng động, giúp các tổ chức doanh nghiệp giảm chi phí, sử dụng tối ưu nguồn lực công nghệ thông tin, công nghệ thông tin sẽ trở thành tài sản chiến lược của doanh nghiệp

Business Productivity Infrastructure Optimization
BPIO là một tập hợp hoàn chỉnh các công nghệ hỗ trợ tổ chức việc quản lí và điều phối nội dung, dữ liệu và quy trình. BPIO giúp đơn giản hóa vấn đề làm việc cộng tác trong doanh nghiệp, xây dựng quy trình làm việc, quản lí nội dung, nâng cao hiệu quả và chất lượng nội tại của doanh nghiệp.

Application Platform Optimization
APO cung cấp cho các tổ chức, bộ phận IT công cụ hỗ trợ để các doanh nghiệp có thể nắm rõ và thực hiện một nền tảng ứng dụng phức tạp và linh hoạt.

Các nhân tố quan trọng của mỗi mô hình là: Optimization Levels, Capability, và Optimization-Level Transition Projects

Optimization Levels
Trong mỗi mô hình tối ưu, Cấp độ tối ưu hóa gồm 4 cấp độ: Basic (Cơ bản), Standardize (Chuẩn hóa), Rationalized/Advanced (Hợp lí hóa) và Dynamics (Năng động hóa)

  • Basic: Ở cấp độ cơ bản, hạ tầng và nền tảng yêu cầu một qui trình giám sát và sửa lỗi thủ công cố định.
  • Standardize: tại cấp độ Chuẩn hóa, hạ tầng nền tảng bao gồm một phần tự động hóa trong khả năng quản lí hệ thống cùng một cơ chế quản lí tự động đối với việc định danh và truy xuất tài nguyên hệ thống
  • Rationalized/Advanced: tại cấp độ hợp lí hóa hạ tầng nền tảng, ứng dụng công nghệ ảo hóa, đẩy mạnh việc bảo mật và các chính sách cấu hình hỗ trợ khả năng dự phòng cho hệ thống.
  • Dynamics: tại cấp độ năng động hóa hạ tầng nền tảng, nguồn lực công nghệ thông tin có đầy đủ tiềm năng để trở thành một tài sản chiến lược thật sự của doanh nghiệp.

Capabilities

Mỗi mô hình tối ưu hóa hạ tầng hay nền tảng đều được phân đoạn bởi các thuộc tính chung thấy được trong môi trường IT. Dưới đây là một số khả năng đặc trưng của các mô hình tối ưu hóa.

Core IO

  • Identity and Access Management
  • Desktop, Device and Server Management
  • Security and Networking
  • Data Protection and Recovery
  • IT and Security Process

BPIO

  • Unified Communication
  • Collaboration
  • Enterprise Content Management
  • Enterprise Search
  • Business Intelligence

APO

  • User Experience
  • Business Intelligence
  • SOA and Business Process
  • Data Management
  • Development

Optimization – Level Transition Projects
Mỗi mô hình tối ưu hóa đều phải được thực hiện thông qua các dự án chuyển đổi cấp độ tối ưu hóa hạ tầng nền tảng. Các dự án này tổ chức, xây dựng các quy trình triển khai, nâng cấp từ mô hình tối ưu hóa ở mức cơ bản (IT được xem như là một trung tâm hao tổn chi phí mà chưa mang lại hiệu quả xứng đáng) trải qua các giai đoạn như chuẩn hóa, hợp lí hóa và năng động hóa (lúc này thì IT được xem như là tài sản chiến lược của các tổ chức doanh nghiệp)

Lợi ích thực tế từ các mô hình tối ưu hóa hạ tầng
Các mô hình tối ưu hóa cung cấp cho các tổ chức doanh nghiệp phương thức để họ có thể nắm rõ được khả năng tối ưu hóa hệ thống tại chính tổ chức của họ. Mô hình cung cấp lộ trình thực hiện việc chuyển đổi cấp độ tối ưu hạ tầng của doanh nghiệp. Mô hình tối ưu hóa đồng thời được cung cấp cho khách hàng, đối tác công nghệ nhằm mục đích hỗ trợ họ trong lộ trình nâng cấp hạ tầng nền tảng công nghệ thông tin, giúp công nghệ thông tin trở thành tài sản chiến lược thật sự của các tổ chức doanh nghiệp.

Categories: Hệ thống thông tin Tags:

Giá trị tiềm năng của bộ phận IT đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp


Trong môi trường cạnh tranh thị trường toàn cầu, các doanh nghiệp luôn tìm kiếm những cơ hội nâng cao thế mạnh cạnh tranh, tăng thu nhập, lợi nhụân và lòng tin của khách hàng. Đồng thời với những yêu cầu mới đối với từng doanh nghiệp, vấn đề đẩy mạnh mối quan hệ giao lưu hợp tác kết nối nền kinh tế toàn cầu tạo nên một môi trường hoạt động cạnh tranh khốc liệt và công nghệ thật sự trở thành “một sân chơi đăng cấp”, mà thông qua nó, với một chiến lược phát triển cụ thể hợp lí và năng động, sẽ giúp doanh nghiệp vươn lên vị trí dẫn đầu.

Trong môi trường hoạt động kinh doanh mới, vai trò của bộ phận IT nhanh chóng trở thành một tài sản chiến lược chính hỗ trợ và dẫn dắt đến những ý tưởng, tài sản và sự hài lòng của khách hàng. Vấn đề quan trọng nhất hiện nay góp phần vào sự quan trọng của  bộ phận IT chính là sự đầu tư leo thang vào công nghệ của các doanh nghiệp

Các doanh nghiệp trong thời đại mới lâm vào vị trí khó xử, rất đáng cân nhắc trong tình hình kinh tế khủng hỏang những năm đầu thế kỷ 21, doanh nghiệp dễ dàng nhận ra được những lợi ích chiến lược đầu tư vào công nghệ, tuy nhiên nhu cầu của doanh nghiệp tăng cao làm tăng độ phức tạp của hệ thống IT, chi phí đầu tư nhiều hơn và khó quản lí hạ tầng nền tảng hơn.

Không chỉ bộ phận IT được xem như là một tài sản chiến lược quan trọng mà tầm quan trọng đối với sự thành công của doanh nghiệp cũng được nâng lên. Một lý do khá quan trọng mà vai trò của bộ phận IT được mở rộng đó chính là khả năng đáp ứng nhu cầu tự động hóa quá trình nghiệp vụ hàng ngày của doanh nghiệp. Đối với dòng chảy công việc trong doanh nghiệp, vấn đề nâng cao hiệu năng hoạt động sẽ thu lại một khỏang lợi nhuận lớn hơn cho doanh nghiệp. Việc đó hỗ trợ các nhân viên cao cấp có thể tập trung vào việc suy nghĩ các ý tưởng phát triển khác thay vì phải phí thời gian vào các công việc thường ngày nhàm chán. Không những thế, bộ phận IT trở thành lực lượng tiên phong trong doanh nghiệp, dẫn dắt hoạt động toàn bộ doanh nghiệp để có thể đạt được hiệu năng cao nhất thông qua các nhu cầu thực thi các luồng thông tin dữ liệu trong doanh nghiệp, nhu cầu làm việc cộng tác theo group/team, nhu cầu về quản trị nguồn lực doanh nghiệp, …. rất nhiều vấn đề có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động kinh doanh của tổ chức doanh nghiệp.

Khả năng của bộ phận IT ảnh hưởng đến sự thành công và khả năng đứng vững của doanh nghiệp đi liền với quá trình tự động hóa tác vụ nghiệp vụ. Nghiệp vụ IT đóng vai trò như một điểm tới hạn nghiệp vụ của doanh nghiệp, và có thể được hiểu như là thành phần phần cốt lõi của quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.

Tóm lại, trong môi trường kinh doanh toàn cầu dưới áp lực cạnh tranh gay gắt, vấn đề đầu tư khôn ngoan vào công nghệ chính là một chiến lược, một bước tiến quan trọng đối với một doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào nhìn nhận được vấn đề cốt lõi, tận dụng được sức mạnh của công nghệ trong hoạt động kinh doanh của công ty mình thì doanh nghiệp đó sẽ không khó để có được vị trí dẫn đầu. Nhưng vấn đề cốt lõi là sẽ áp dụng công nghệ như thế nào, đầu tư thế nào là hiệu quả và lộ trình thực hiện ra sao?

Trong bài viết kế tiếp, mình sẽ giới thiệu tổng quan với các bạn lộ trình triển khai một cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin năng động gồm 4 giai đoạn là Cơ Bản (Basic), Chuẩn hóa (Standardize), Hợp lí hóa (Rationalize/Advance) và Năng động hóa (Dynamic)

Phát triển ứng dụng trên Active Directory với .Net Framework


Từ trước giờ, khi nhắc đến thuật ngữ, các bạn thường nghĩ ngay đến việc cài đặt, triển khai các hệ thống mạng theo các mô hình single domain và multi domain. Ít ai nhắc đến việc phát triển các ứng dụng trên Active Directory, đi sâu vào kiến trúc và lập trình với database của AD – AD Schema.

Về tổ chức thông tin trong AD được xem như các đối tượng, bạn có thể xem thêm về kiến trúc của AD ở đây.

Đối với việc phát triển ứng dụng với AD, ta có 3 phương pháp chính:

  1. LDAP – Lightweight Directory Access Protocol – đây là một giao thức chạy trên TCP/IP và cho phép lưu vết, truy xuất và thay đổi thông tin trên Internet Directory
  2. ADSI – Active Directory Services Interface – đây là interface hỗ trợ để thực hiện các tác vụ hệ thống
  3. System.DirectoryServices –  được tích hợp mặc định trong ADSI API và được .Net Framework cung cấp thư viện cho việc lập trình tương tác với Active Directory

Đây là kiến trúc tổng quan cho vấn đề lập trình tương tác với Active Directory

 

Trong bài viết này mình tập trung giới thiệu đến các bạn về vấn  đề lập trình thông qua phương pháp thứ 3 trong 3 phương pháp trên, lập trình ứng dụng với .Net Framework thông qua thư viện System.DirectoryServices

Một số ví dụ về việc lập trình với AD

Chứng thực một User

Tạo mới một user

Thiết lập password cho Users

Download Source Code Ứng dụng Demo